Hoa Kỳ khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm máy nén khí nhập khẩu từ Việt Nam
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã chính thức khởi xướng điều tra chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC) với máy nén khí nhập khẩu từ Malaysia, Trung Quốc và Việt Nam:
1. Thông tin chung về vụ việc
- Mã vụ việc: A-552-856 (CBPG) và C-552-857(CTC)
- Sản phẩm bị đề nghị điều tra: sản phẩm máy nén khí chủ yếu thuộc mã HS 8414.80.16.15, 8414.80.16.25, 8414.80.16.35 và 84.14.80.16.85.
- Nguyên đơn: Công ty MAT Industries, LLC
- Ngày nhận đơn: Ngày 30 tháng 4 năm 2026.
- Doanh nghiệp xuất khẩu bị cáo buộc bán phá giá và được trợ cấp: Đơn kiện nêu tên 12 doanh nghiệp của Việt Nam sản xuất, xuất khẩu sản phẩm bị điều tra
- Thời kỳ điều tra CBPG: 01/10/2025-31/03/2026
- Thời kỳ điều tra CTC: Năm 2025.
- Thời kỳ điều tra thiệt hại: 03 năm (2023-2025).
- Kim ngạch xuất khẩu: Theo số liệu của Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), trong năm 2025, Việt Nam xuất khẩu lần lượt khoảng 81 triệu USD sản phẩm bị cáo buộc sang Hoa Kỳ, chiếm 6% thị phần nhập khẩu. Giá trị xuất khẩu sản phẩm này của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng 42% so với năm 2023.
1.1. Thông tin cáo buộc bán phá giá
- Nước và giá trị thay thế: Tương tự như các vụ việc gần đây, do Hoa Kỳ coi Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế phi thị trường, nên DOC sẽ sử dụng các giá trị thay thế của quốc gia thứ ba để tính toán biên độ phá giá cho Việt Nam. Trong vụ việc này, nguyên đơn đề nghị sử dụng Indonesia, Tunisia hoặc El Salvador là quốc gia thay thế do cho rằng các nước này có mức độ phát triển kinh tế tương đồng với Việt Nam và có số lượng đáng kể các nhà sản xuất bị điều tra.
- Biên độ CBPG cáo buộc với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam: 52,53-106,22% (nếu dùng El Salvador làm quốc gia thay thế); 25,85-132,31% (nếu dùng Indonesia làm quốc gia thay thế); 22,06-140,39 (nếu dùng Tunisia làm quốc gia thay thế).
Các bên có thời hạn bình luận về giá trị thay thế trong vòng 30 ngày trước ngày DOC dự kiến ban hành kết luận sơ bộ của vụ việc.
1.2. Thông tin cáo buộc trợ cấp
- Biên độ CTC bị cáo buộc với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam: Nguyên đơn không đưa ra cáo buộc với biên độ trợ cấp.
- Các chương trình trợ cấp bị cáo buộc: Nguyên đơn cáo buộc các doanh nghiệp sản xuất/xuất khẩu máy nén khí của Việt Nam đã nhận được 46 chương trình trợ cấp từ Chính phủ, gây thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ. Các chương trình trợ cấp bị cáo buộc thuộc các nhóm:
(1) Nhóm các chương trình cho vay và đảm bảo (9 chương trình): Cho vay chính sách từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Ngân hàng chính sách khác, Chương trình hỗ trợ lãi suất từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bao thanh toán xuất khẩu từ các Ngân hàng Thương mại Nhà nước (SOCBs), Bảo lãnh hoạt động xuất khẩu từ SOCBs, Cho vay ưu đãi cho các nhà xuất khẩu từ SOCBs, Tín dụng xuất khẩu từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), Tín dụng đầu tư từ VDB, Cho vay ưu đãi cho các Chương trình Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Quốc gia, Các Chương trình Cho vay tạo điều kiện chuyển đổi sang năng lượng sạch.
(2) Nhóm các chương trình ưu đãi thuế (20 chương trình): Ưu đãi thuế thu nhập cho doanh nghiệp trong khu vực đặc biệt, Ưu đãi thuế thu nhập cho doanh nghiệp xuất khẩu, Ưu đãi thuế cho các khoản đầu tư cũ, Ưu đãi thuế cho các khoản đầu tư mới, Ưu đãi thuế theo Nghị định 60/2012, Ưu đãi thuế thu nhập theo Nghị định số 24, Chương trình thuế thu nhập ưu đãi cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Khấu hao nhanh và Tăng chi phí được khấu trừ, Chương trình ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các ngành cụ thể, Thuế suất ưu đãi cho các dự án nghiên cứu và phát triển và đầu tư lớn, Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Gói hỗ trợ cho các ngành công nghiệp vừa và nhỏ, Ưu đãi cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng nhập khẩu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu, Hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu thô dùng để sản xuất hàng xuất khẩu, Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng nhập khẩu vào khu công nghiệp, Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu thô nhập khẩu dùng cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu và khu chế biến xuất khẩu, Miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị và máy móc, Miễn thuế cho các dự án Trung tâm Đổi mới Quốc gia, Miễn các loại thuế khác đối với hàng nhập khẩu nguyên liệu thô, vật tư và linh kiện.
(3) Nhóm các Chương trình Đất đai (6 chương trình): Miễn hoặc giảm tiền thuê đất cho các ngành công nghiệp khuyến khích hoặc khu vực được chọn, Miễn thuế và phí sử dụng đất cho các ngành công nghiệp khuyến khích hoặc khu công nghiệp, Miễn hoặc giảm tiền thuê đất cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Miễn phí thuê đất cho trung tâm đổi mới quốc gia và các dự án của trung tâm, Miễn phí thuê đất cho các dự án đủ điều kiện khác, Miễn và giảm tiền thuê đất cho các doanh nghiệp nằm trong khu đặc biệt.
(4) Nhóm các chương trình hỗ trợ (04 chương trình): Tài trợ khuyến khích xuất khẩu, Tài trợ hỗ trợ đầu tư, Chương trình tài trợ theo Nghị định số 118/2015, Cung cấp dịch vụ với mức giá thấp hơn giá thị trường.
(5) Chương trình tiện ích với giá ưu đãi (04 chương trình): gồm các chương trình cung cấp ga, khí hóa lỏng tự nhiên, điện với mức giá ưu đãi cho các khu công nghiệp và khu chế biến xuất khẩu.
(6) Cho vay chính sách xuyên biên giới từ các tổ chức tài chính Trung Quốc (03 chương trình): Nguyên đơn cáo buộc các chính sách của chính phủ Trung Quốc mang lại lợi ích cho các sản phẩm Việt Nam thông qua các công ty con sở hữu chéo theo “hợp tác năng lực quốc tế” thuộc sáng kiến vành đai và con đường (BRI), các dự án hợp tác năng lực tại Việt Nam, các hỗ trợ tài chính này có thể coi là các khoản trợ cấp có thể bị đối kháng.
Tuy nhiên, trong thông báo khởi xướng, DOC thông báo khởi xướng điều tra 43 chương trình trợ cấp. Danh mục các chương trình khởi xướng cụ thể hiện chưa được thông báo chính thức.
2. Quy trình thủ tục điều tra tiếp theo
Theo quy định điều tra của Hoa Kỳ, có 02 cơ quan tham gia trong một vụ việc điều tra CBPG và CTC: DOC điều tra về hành vi bán phá giá và trợ cấp và chịu trách nhiệm chung về kết quả điều tra trong khi ITC chịu trách nhiệm đánh giá thiệt hại của ngành sản xuất trong nước. Sản phẩm chỉ bị áp thuế CBPG/CTC nếu cả 02 cơ quan đều ban hành kết luận khẳng định. Nếu như trong vụ việc CBPG, chỉ có doanh nghiệp xuất khẩu là đối tượng bị điều tra thì trong vụ việc CTC, Chính phủ cũng là đối tượng bị điều tra.
2.1. Quy trình điều tra của DOC:
(1) Lựa chọn bị đơn bắt buộc
Sau khi khởi xướng điều tra, DOC sẽ ban hành Bản câu hỏi về Lượng và Giá trị (Q&V) cho vụ việc CBPG để thu thập thông tin nhằm lựa chọn bị đơn bắt buộc. Tất cả các doanh nghiệp nằm trong danh sách nhận bản câu hỏi Q&V của DOC, các doanh nghiệp có xuất khẩu trong giai đoạn điều tra và các doanh nghiệp muốn được hưởng thuế suất CBPG riêng rẽ cần phải trả lời. Bản câu hỏi sẽ được đăng tải trên địa chỉ: https://www.trade.gov/ec-adcvd-qv-questionnaire và https://www.trade.gov/ec-adcvd-case-announcements
Theo thông lệ, DOC sẽ dựa trên phản hồi Bản câu hỏi Q&V và số liệu của Hải quan Hoa Kỳ để lựa chọn bị đơn bắt buộc (thường là các nhà xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam về lượng trong giai đoạn điều tra). Các bị đơn bắt buộc sẽ được điều tra và xác định biên độ phá giá/biên độ trợ cấp riêng.
(2) Đăng ký hưởng thuế suất riêng rẽ (chỉ áp dụng với vụ việc CBPG)
Riêng trong vụ việc điều tra CBPG, trong trường hợp không được lựa chọn làm bị đơn bắt buộc, các doanh nghiệp phải đăng ký hưởng thuế suất riêng rẽ để được tính thuế dựa trên kết quả của bị đơn bắt buộc (nếu không sẽ bị áp dụng mức thuế toàn quốc, thường bằng mức cáo buộc). Các doanh nghiệp cần chứng minh hoạt động độc lập, không chịu sự kiểm soát của Chính phủ cả về pháp lý và thực tiễn. Mức thuế suất riêng rẽ bằng bình quân gia quyền các biên độ phá giá của các bị đơn bắt buộc (loại trừ các biên độ bằng 0, de minimis[1], và biên độ dựa trên dữ liệu sẵn có bất lợi). Thời hạn để nộp Đơn xin hưởng thuế suất riêng rẽ là 21 ngày kể từ ngày khởi xướng.
Trong trường hợp doanh nghiệp không nộp Đơn xin hưởng thuế suất riêng rẽ hoặc doanh nghiệp đã nộp, nhưng không được chấp nhận, thì biên độ phá giá dành cho các doanh nghiệp sẽ là mức thuế suất toàn quốc (thường rất cao, có thể bằng với biên độ phá giá cáo buộc).
(3) Bình luận và phản biện về phạm vi sản phẩm
Các bên liên quan có thể nêu ý kiến về phạm vi sản phẩm bị điều tra. Thời hạn bình luận hiện là ngày 09 tháng 6 năm 2026 và thời hạn phản biện là ngày 22 tháng 6 năm 2026.
(4) Trả lời Bản câu hỏi điều tra
Sau khi xác định được bị đơn bắt buộc, DOC sẽ ban hành Bản câu hỏi điều tra dành cho bị đơn bắt buộc. Trong vụ việc CTC, DOC sẽ ban hành thêm Bản câu hỏi điều tra dành cho Chính phủ. Thời hạn trả lời thường là 30 ngày kể từ ngày ban hành bản câu hỏi ban đầu (có thể xin gia hạn). DOC có thể ban hành các bản câu hỏi bổ sung với thời hạn ngắn hơn.
(5) Kết luận sơ bộ
DOC có 140 ngày kể từ ngày khởi xướng để ban hành kết luận sơ bộ về bán phá giá và có 65 ngày kể từ ngày khởi xướng để ban hành kết luận sơ bộ về trợ cấp. DOC có thể áp dụng thuế hồi tố đến 90 ngày trước ngày áp thuế sơ bộ trong trường hợp có bằng chứng cho thấy tồn tại “tình trạng khẩn cấp” (nhập khẩu tăng đột biến) theo cáo buộc của Nguyên đơn.
(6) Thẩm tra tại chỗ: sau khi có kết luận sơ bộ, DOC có thể tiến hành thẩm tra tại chỗ doanh nghiệp và Chính phủ (chỉ thẩm tra Chính phủ trong vụ việc CTC).
(7) Kết luận cuối cùng: 75 ngày từ ngày kể từ ngày ban hành kết luận sơ bộ, có thể gia hạn.
2.2. Quy trình điều tra tại ITC
ITC tập trung điều tra, xác định việc bán phá giá/trợ cấp có phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại của ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ hay không. Trong trường hợp ITC xác định không có thiệt hại ở giai đoạn Kết luận cuối cùng, vụ việc sẽ được chấm dứt.
3. Một số khuyến nghị ứng phó
- Tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của vụ việc; chủ động nghiên cứu, nắm vững quy định, trình tự, thủ tục điều tra CBPG và CTC của Hoa Kỳ; đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu;
- Hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra Hoa Kỳ trong suốt quá trình diễn ra vụ việc. Bất kỳ hành động thể hiện sự bất hợp tác hoặc hợp tác không đầy đủ có thể dẫn tới việc cơ quan điều tra Hoa Kỳ sử dụng các chứng cứ sẵn có bất lợi hoặc áp dụng mức thuế CBPG và CTC cao nhất cho doanh nghiệp;
- Chủ động đăng ký tài khoản ACCESS tại cổng thông tin điện tử của DOC (https://access.trade.gov) nhằm cập nhật thông tin và nộp các Bản trả lời, tài liệu liên quan tới Cơ quan điều tra Hoa Kỳ;
- Thường xuyên phối hợp, cập nhật thông tin cho Cục PVTM để nhận được sự hỗ trợ kịp thời.
Thông tin chi tiết xin liên hệ: Phòng Xử lý PVTM nước ngoài, Cục PVTM, Bộ Công Thương, 54 Hai Bà Trưng, Cửa Nam, Hà Nội (Chuyên viên phụ trách: Nguyễn Việt Hà, Email: hanv@moit.gov.vn, ngocny@moit.gov.vn. Website: http://trav.gov.vn/.
Tài liệu liên quan xem tại đây.
[1] De minimis: biên độ phá giá tối thiểu là mức biên độ phá giá thấp hơn 2%





