Trang chủ Tin tức

Quy định điều tra thiệt hại của EU trong các vụ việc chống bán phá giá

25/12/2020 -

1. Quy định pháp luật

Pháp luật về chống bán phá giá của EU ra đời năm 1968 (Quy định (EEC) số 459/68 của Hội đồng ngày 5 tháng 4 năm 1968 về chống bán phá giá hoặc cấp tiền thưởng hoặc trợ cấp của các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng kinh tế châu Âu)[1] và đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần chủ yếu nhằm đưa những nội dung mới của việc thực hiện Hiệp định ADA vào luật của EU hiện nay. Quy định CBPG hiện hành của EU là Quy định 2016/1036 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 8/6/2016 về chống bán phá giá[2].

Quy định CBPG của EU về cơ bản giống với WTO, tuy nhiên có một số nội dung khác biệt như:

- Bắt buộc áp dụng quy tắc áp thuế thấp hơn (lesser duty rule) (trong khi theo quy định WTO, quy tắc này không bắt buộc áp dụng).

- Quy định về lợi ích công cộng là một điều kiện để quyết định có áp đặt thuế/biện pháp chống bán phá giá hay không (bên cạnh 3 điều kiện khác là phá giá; thiệt hại đáng kể; và mối quan hệ giữa việc bán phá giá và thiệt hại). EU quy định trước khi ra quyết định áp thuế cơ quan có thẩm quyền phải xem xét xem việc áp thuế đó có ảnh hưởng đến lợi ích công cộng hay không; và quyết định áp thuế sẽ chỉ được đưa ra nếu nó không gây ảnh hưởng đến lợi ích công cộng. Đây là quy định có lợi hơn cho nhà sản xuất-xuất khẩu nước ngoài trong vụ việc chống bán phá giá.

2. Mô hình cơ quan điều tra

Vụ Phòng vệ thương mại (Vụ H) thuộc Tổng vụ Thương mại, Ủy ban châu Âu (European Commission - EC) là cơ quan điều tra các vụ việc PVTM (điều tra cả vấn đề phá giá, trợ cấp, thiệt hại, tự vệ, chống lẩn tránh thuế, chứ không tách biệt thành 2 cơ quan như mô hình của Hoa Kỳ), sau đó với tư vấn của Ủy ban về công cụ phòng vệ thương mại (Trade Defence Instruments Committee ), Ủy ban châu Âu sẽ ra quyết định cuối cùng[3],cụ thể:

(1) Vụ Phòng vệ thương mại thuộc Tổng vụ Thương mại- EC

Cơ quan điều tra có thẩm quyền:

- Ra các quyết định: khởi xướng điều tra, ban hành biện pháp tạm thời, đề xuất biện pháp chính thức, chấm dứt điều tra, chấp nhận cam kết giá.

- Tổ chức điều tra chống bán phá giá/trợ cấp (bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá/ chống trợ cấp và điều tra về thiệt hại) – đảm bảo các quyền tố tụng của các bên trong quá trình điều tra;

- Đưa ra các đề xuất trình Hội đồng châu Âu quyết định áp dụng biện pháp PVTM chính thức.

Vụ Phòng vệ thương mại (Vụ H) thuộc Tổng vụ Thương mại có 5 phòng chức năng:

- Phòng Chính sách chung và quan hệ với WTO, quan hệ với ngành (H1);

- Phòng Điều tra I/ Quan hệ với các thành viên EU về các vấn đề PVTM (H2);

- Phòng Điều tra II- Điều tra chống lẩn tránh (H3);

- Phòng Điều tra III- Theo dõi việc thực thi (H4);

- Phòng Điều tra IV- Quan hệ với các nước thứ 3 về vấn đề PVTM (H5).

Vụ H chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ (bao gồm cả điều tra thiệt hại), chống lẩn tránh biện pháp PVTM và xử lý các vụ việc quyết tranh chấp tại WTO; căn cứ trên kết quả điều tra, đề xuất biện pháp trình Hội đồng châu Âu quyết định những việc như việc áp dụng thuế chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ.[4]

Bên cạnh đó, EC còn thành lập một bộ phận trợ giúp (helpdesk) dành riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận các công cụ phòng vệ thương mại, cung cấp thông tin về các thủ tục và thời hạn áp dụng các biện pháp[5].

Có thể thấy, so với mô hình cơ quan điều tra PVTM của Việt Nam, cơ quan chuyên trách về PVTM của EU có quy mô lớn cả về tổ chức và nhân sự. So với Cục PVTM của Việt Nam, Vụ H có cơ cấu mở rộng, nhiều bộ phận chuyên trách hơn, có riêng 1 phòng chuyên môn xử lý vấn đề lẩn tránh biện pháp PVTM, chức năng phòng H1 tương tự với Phòng Pháp chế của Cục PVTM nhưng lại có thêm nội dung mở rộng quan hệ với ngành, giúp tiếp nhận thông tin đa chiều và tăng hiệu quả khi xử lý chính sách.

(2) Ủy ban về công cụ phòng vệ thương mại (Trade Defence Instruments Committee)[6]

- Vai trò: Hỗ trợ EC trong việc đưa ra ý kiến trước khi áp dụng biện pháp.

- Thành phần: bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên và chủ trì bởi một đại diện của EC. Cụ thể, EC tham vấn ý kiến ​​của Ủy ban này trong các vấn đề sau của cuộc điều tra:

• có hay không áp dụng các biện pháp tạm thời hoặc chính thức;

• có hay không khởi xướng thủ tục rà soát khi biện pháp hết hạn;

• sửa đổi và gia hạn các biện pháp hiện hành.

- Chức năng:

Ủy ban đưa ra ý kiến ​​của mình thông qua hai loại thủ tục:

- tư vấn (ví dụ: áp dụng biện pháp tạm thời, rà soát hết hạn). Ý kiến tư vấn của Ủy ban không có giá trị bắt buộc đối với EC. Tuy nhiên, đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình EC ra quyết định, vì nó cho phép EC thu thập được quan điểm của các quốc gia thành viên.

- kiểm tra (ví dụ: áp dụng biện pháp chính thức, sửa đổi / gia hạn các biện pháp hiện hành).  Có thể đưa vấn đề ra một ủy ban kháng cáo, bao gồm các quốc gia thành viên và do EC chủ trì. Ủy ban kháng cáo không phải là một cơ quan thường trực, nhưng cho các quốc gia thành viên cơ hội thảo luận lần thứ hai về dự thảo áp dụng biện pháp ở cấp cao hơn.

Tất cả nội dung các cuộc tham vấn đều được giữ bí mật.

Ủy ban về công cụ phòng vệ thương mại của EU có chức năng tương tự giống như Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của Việt Nam trước đây[7]. Tuy nhiên, trong Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 không có quy định về Hội đồng này.

3. Thực tiễn điều tra thiệt hại của EU trong các vụ việc chống bán phá giá

Theo số liệu của WTO, tính đến hết năm 2019, EU đã khởi xướng điều tra 502 vụ CBPG, là một trong ba Thành viên tích cực điều tra CBPG nhất trên thế giới, chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Ấn Độ (888 vụ CBPG) và Canada (524 vụ CBPG). Trong tổng số 502 vụ CBPG mà EU khởi xướng, có 332 vụ có kết luận cuối cùng áp thuế. Đối với Việt Nam, EU đã điều tra 6 vụ việc CBPG đối với các sản phẩm: giày mũ da, ốc vít, ống thép, xe đạp, bật lửa ga, giày dép (cho đến nay các vụ việc này đều đã hết hạn).

         Các cơ quan liên quan của EU có thẩm quyền rộng khi chứng minh thiệt hại và mối quan hệ nhân quả. Nhìn chung, các tòa như Tòa Công lý châu Âu- European Court of Justice (ECJ) thường không đưa ra kết luận rằng cơ quan có thẩm quyền của châu Âu sai một cách rõ ràng khi phân tích thiệt hại. Quy định của EU về CBPG có những điều khoản khá giống với các quy định của WTO. Sự khác biệt duy nhất là việc có thêm quy định về một yếu tố bổ sung trong phân tích các yếu tố khác gây ra thiệt hại, theo đó EC phải xem xét “liệu ngành sản xuất có đang trong quá trình phục hồi từ hàng hóa bán phá trước đó?”. Mặc dù yếu tố này được xem xét khi ra quyết định về thiệt hại đáng kể, mục đích của yếu tố bổ sung này là nhằm đảm bảo rằng tình trạng suy yếu vốn có của ngành sản xuất trong nước không phải là nguyên nhân để không áp dụng biện pháp CBPG.

          Thực tiễn của EU là xem xét số liệu thiệt hại trong khoảng thời gian từ 03-04 năm trước thời kỳ điều tra nhằm mục đích xác định xu hướng của các chỉ số về lượng, thị phần cũng như các chỉ số tài chính khác như: Lợi nhuận, dòng tiền hay tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (return on capital employed ROCE).

          Bên cạnh đó, các thông tin kinh tế vi mô thường giá trị hơn các thông tin kinh tế vĩ mô. Cho dù một số tiêu chí không cho thấy thiệt hại, thì, những kết luận này không làm giảm mức độ tin cậy của quyết định áp dụng biện pháp.

Các chỉ số về giá bán, lợi nhuận, biên lợi nhuận có thể tác động tới tình hình tài chính của ngành, do vậy, đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích thiệt hại cũng như làm rõ mối quan hệ nhân quả. Ngoài ra, phân tích bán dưới giá và chênh lệch giá được sử dụng để đánh giá thiệt hại đáng kể và mối quan hệ nhân quả.

EU không có một tiêu chí cụ thể trong việc làm rõ mối quan hệ nhân quả. Ví dụ, cơ quan điều tra từng kết luận  hàng nhập khẩu bán phá giá nếu được xem xét riêng rẽ không dẫn tới thiệt hại đối với vụ việc điều tra chống bán phá giá đối với vụ việc cao su Styrene-butadiene-styrene thermoplastic (Hàn Quốc).

Thực tiễn chung là hàng nhập khẩu bán phá giá nếu được xem xét riêng rẽ có thể đã gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, kết luận như vậy sẽ không bị ảnh hưởng bởi thực tế là có tồn tại các yếu tố khác.

EU không sử dụng phương pháp định lượng trong việc phân tách vai trò của các yếu tố khác lên ngành sản xuất trong nước. EU thường sử dụng tổng hợp các báo cáo số liệu, phân tích xu hướng và công cụ thống kê, nhưng chưa sử dụng các mô hình hồi quy phức tạp.

Liên quan đến vấn đề thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, có thể thấy kết luận điều tra xác định không có thiệt hại nhìn chung là rất hiếm, mặc dù có thể xảy ra trong giai đoạn rà soát giữa kỳ hay rà soát cuối kỳ.

 


[1] https://op.europa.eu/en/publication-detail/-/publication/601ecff2-5419-4cee-b384-09d1862f6730/language-en

[2] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX:32016R1036

[4] https://ec.europa.eu/info/sites/info/files/tradoc_145610_0.pdf

[5] https://ec.europa.eu/trade/policy/accessing-markets/trade-defence/actions-against-imports-into-the-eu/help-for- smes/

[6] https://trade.ec.europa.eu/doclib/docs/2013/april/tradoc_151013.pdf

[7] Nghị định của Chính phủ số 04/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.

Nguồn: