Cảnh báo việc Hoa Kỳ tăng cường biện pháp chống lẩn tránh biện pháp thương mại của Hoa Kỳ

1. Bối cảnh và xu hướng chung

Theo số liệu mới nhất của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ và Cục Phân tích Kinh tế Hoa Kỳ, thâm hụt hàng hóa và dịch vụ của nước này là 71,5 tỷ USD vào tháng 5/2025, tăng 11,3 tỷ USD so với tháng 4/2025. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, thâm hụt hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ đã tăng 175,0 tỷ USD, tương đương 50,4%, so với cùng kỳ năm 2024.

Với cách tiếp cận coi thuế quan là công cụ thương mại quan trọng để tái cấu trúc cán cân thương mại thâm hụt dai dẳng và quan hệ song phương với các nước khác, Hoa Kỳ đang tích cực ráo riết hơn với  các biện pháp nhằm ngăn chặn các hành vi trốn tránh các biện pháp khắc phục thương mại bằng cách thay đổi nguồn gốc hàng hóa hoặc sử dụng các hành vi lừa đảo khác. Đây cũng là lý do có sự gia tăng đáng chú ý trong các cuộc điều tra về biện pháp khắc phục thương mại, bao gồm các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và chống lẩn tránh.

Vào cuối năm 2024, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành thông báo sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số quy định hiện hành về biện pháp khắc phục thương mại. Những thay đổi này bao gồm việc hệ thống hóa các quy trình và phương pháp hiện hành trong thực tiễn, đồng thời xây dựng hoặc sửa đổi các quy định pháp lý hiện hành.

Vào tháng 4/2025, Hoa Kỳ đã công bố một sắc lệnh hành pháp thiết lập các mức thuế quan có đi có lại, bao gồm mức thuế cơ bản 10% đối với hàng nhập khẩu từ tất cả các đối tác, gia hạn đến ngày 1/8/2025, sau đó nhiều khả năng là các mức thuế quan cao hơn, thậm chí là gấp 2, gấp 3 lần mức tạm thời này, tùy theo từng nước. Đồng thời, các thông báo thuế quan cũng kèm theo lưu ý rằng mức thuế sẽ còn cao hơn nữa nếu bị phát hiện các hành vi lẩn tránh biện pháp thương mại để hưởng mức thuế thấp hơn.

Khi Hoa Kỳ tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại trên diện rộng, cũng đồng nghĩa với khối lượng công việc giám sát, điều tra và áp dụng các biện pháp chống lẩn tránh gia tăng. Do đó, Hoa Kỳ sẽ ứng dụng công nghệ mới và các chiến thuật hiện đại để phục vụ khối lượng công việc lớn sắp tới, trong thời gian gấp rút để đảm bảo hiệu quả mục tiêu của các biện pháp thương mại mà mình đang sử dụng, qua đó bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và tránh thất thoát thuế.

Ngoài các hoạt động truyền thống như kiểm tra nguồn gốc nhập khẩu và khả năng lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại hiện hành như thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp, Hoa Kỳ đang thực hiện các quy định và thủ tục chặt chẽ hơn đối với các trường hợp nghi ngờ thương mại gian lận hoặc không công bằng, yêu cầu thông tin chi tiết hơn và tuân thủ nghiêm ngặt.

Các cuộc điều tra lẩn tránh biện pháp PVTM dự báo sẽ được mở rộng để rà soát các khoản trợ cấp xuyên biên giới và các yếu tố khác có thể tạo ra thương mại không công bằng, hoặc không tuân thủ các quy định của Hoa Kỳ

+ Nếu hoạt động sản xuất diễn ra tại một nước A, có thể là bởi doanh nghiệp FDI từ một nước B và đáp ứng các tiêu chí xuất xứ hàng hóa từ nước đó theo quy định, nhưng phần lớn hoạt động sản xuất được trợ cấp xuyên biên giới từ một nước B, bao gồm cả trợ cấp về tài chính, công nghệ, nhân lực, đầu vào… thì cũng có thể coi là một hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ để hưởng mức thuế đối với hàng nhập khẩu từ nước A đang được áp dụng thấp hơn với hàng nhập khẩu từ nước B.

+ Quy định mới của Hoa Kỳ, áp dụng từ 15 tháng 1 năm 2025, nêu rõ rằng một công ty có thể nhận được trợ cấp xuất khẩu nếu công ty đó được hưởng các khoản miễn giảm thuế trực tiếp (ví dụ: thuế thu nhập) hoặc thuế gián tiếp (ví dụ: thuế nhập khẩu), hoặc giảm phí liên quan đến nhập khẩu, trong trường hợp số tiền phải trả theo chương trình ưu đãi đó ít hơn so với số tiền phải trả nếu không có chương trình này, bao gồm cả trường hợp công ty hoạt động trong khu vực miễn thuế do chính phủ nước xuất khẩu thành lập. Như vậy phạm vi đã mở rộng đến cả các khu vực miễn thuế để tránh lợi dụng các quy định ưu đãi đặc thù cho các khu vực này để trốn tránh các biện pháp thương mại từ Hoa Kỳ.

+ Mở rộng phạm vi áp dụng cho các nhà xuất khẩu từ các nước thứ ba. Nếu DOC xác định một công ty có trụ sở chính tại một nước thứ ba thực sự do chính phủ một nước có nền kinh tế phi thị trường (NME) kiểm soát, công ty đó có thể phải chịu mức thuế suất áp dụng trên toàn quốc.

+ Nếu công ty được trợ cấp là một tập đoàn  bao gồm công ty mẹ có hoạt động kinh doanh độc lập, thì Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ phân bổ trợ cấp trên toàn bộ doanh thu hợp nhất của công ty mẹ và các công ty con. Như vậy quy định này tạo căn cứ tính toán trợ cấp cho các doanh nghiệp FDI có mô hình tập đoàn đa quốc gia, với nhiều công ty con, hiện đang chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

+  Nếu tồn tại quyền sở hữu chéo giữa nhà sản xuất đầu vào (cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhà sản xuất hạ nguồn) và sản lượng đầu vào chủ yếu dành cho việc sản xuất các sản phẩm hạ nguồn, DOC sẽ phân bổ trợ cấp mà nhà sản xuất đầu vào nhận được trên tổng doanh thu của cả sản phẩm đầu vào và hạ nguồn (không bao gồm doanh số bán hàng giữa các công ty).

+ Trợ cấp liên quan đến điện, nước, năng lượng-vốn chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong chi phí sản xuất, cũng được tính toán tới. Nếu tồn tại tình trạng sở hữu chéo giữa nhà cung cấp tiện ích (điện, khí đốt tự nhiên hoặc các dịch vụ tương tự) và nhà sản xuất hàng hóa được điều tra, DOC sẽ phân bổ trợ cấp mà nhà cung cấp tiện ích nhận được trên tổng doanh số bán hàng của mình và doanh số bán hàng của nhà sản xuất hàng hóa được điều tra. Ví dụ Chính phủ một nước A trợ cấp cho nhà máy sản xuất điện/năng lượng, nhà máy này đồng sở hữu cổ phần của một công ty sản xuất dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ, thì ngay cả việc giá điện, nước, năng lượng…cung cấp cho doanh nghiệp dệt may này có được giảm giá hay không, việc trợ cấp gián tiếp thông qua cơ cấu sở hữu chéo này cũng được DOC xem xét tới và phân bổ theo quy tắc mới.

+ Ngoài ra trong khi loại bỏ các điều khoản coi trợ cấp trên diện rộng (như trợ cấp nông nghiệp hoặc trợ cấp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ) là "không cụ thể" và không được loại khỏi biện pháp chống trợ cấp, thì quy định mới lại bổ sung quy tắc cho rằng cứu trợ thiên tai, viện trợ đại dịch và hỗ trợ việc làm cho một số nhóm lao động nhất định (phân loại theo độ tuổi, giới tính, tình trạng khuyết tật, tình trạng cựu chiến binh, thất nghiệp dài hạn hoặc phân loại nông thôn/thành thị) là "không cụ thể" và do đó không phải chịu thuế đối kháng (CVD). Ví dụ: Nếu một nước A trợ cấp cho việc xuất khẩu một sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như trái cây (xoài) hoặc hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu thông qua các chương trình đa dạng về phát triển doanh nghiệp, thì hành vi này vẫn được coi là trợ cấp xuất khẩu. Ngược lại, trong trường hợp xảy ra thiên tai, ví dụ như bão lũ, hoạt động hỗ trợ khôi phục sản xuất và kinh doanh với sản phẩm bị thiệt hại trực tiếp bởi thiên tai đó, ví dụ thủy sản, sau đó thủy sản được xuất khẩu vào Hoa Kỳ, nhưng chứng minh được mối liên hệ trên, thì được loại trừ khỏi biện pháp chống trợ cấp.

- Bổ sung biện pháp để ứng phó với trường hợp quốc gia bị điều tra hoặc các bị đơn bắt buộc không hợp tác:

+ Trong bối cảnh căng thẳng về thuế quan, nhiều khả năng Hoa Kỳ sẽ tăng cường áp dụng quy định mới về “Thông tin Bất lợi có sẵn” (AFA):  Sửa đổi này cho phép DOC áp dụng AFA một phần hoặc toàn bộ khi doanh nghiệp/chính phủ xuất khẩu không hợp tác. DOC có thể sử dụng:

(i) Bất kỳ biên độ trợ cấp nào đã được tính toán trước đó cho các chương trình giống hệt hoặc tương tự từ cùng một quốc gia hoặc bất kỳ chương trình nào khác được coi là hợp lý khi áp dụng AFA trong các vụ kiện chống trợ cấp.

(ii) Bất kỳ biên độ bán phá giá nào được phát hiện trong quá trình điều tra/đánh giá khi áp dụng AFA trong các vụ kiện chống bán phá giá.

(iii) Biên độ bán phá giá hoặc trợ cấp cao nhất mà không cần ước tính mức thuế suất chính xác trong trường hợp nhà xuất khẩu/chính phủ không hợp tác. DOC cũng không bắt buộc phải chứng minh rằng các biên độ đó phản ánh "thực tế thương mại" của các bên liên quan.

Không chỉ riêng Hoa Kỳ, xu hướng bảo hộ thương mại và điều tra chống lẩn tránh biện pháp thương mại đang gia tăng trên toàn cầu, tạo ra các rủi ro kép và phức tạp hơn cho các doanh nghiệp trong việc điều hướng thương mại:

 Tổ chức Thương mại thế giới mới đây đã thống kê([1]) có tổng cộng 644 biện pháp thương mại đối với hàng hóa được các nước thành viên và quan sát viên của WTO thực hiện từ giữa tháng 10 năm 2024 đến giữa tháng 5 năm 2025-mức cao nhất trong vòng một thập kỷ trở lại đây. Phạm vi thương mại của các hành động liên quan đến thương mại khác được thực hiện trong giai đoạn rà soát ước tính đạt 2.732,7 tỷ đô la Mỹ (tăng từ 887,6 tỷ đô la Mỹ trong báo cáo giám sát trước đó). Đây là mức độ bao phủ thương mại cao nhất được ghi nhận trong Báo cáo Giám sát Thương mại của WTO kể từ khi ra đời vào năm 2009. Sự gia tăng này chủ yếu do thuế nhập khẩu tăng mạnh. Khoảng 83% phạm vi bao phủ thương mại tăng này, tương đương 2.261,3 tỷ đô la Mỹ, có liên quan trực tiếp đến các diễn biến chính sách thương mại kể từ đầu năm 2025.

Bản Cập nhật Giám sát Thương mại của WTO chỉ ra một sự thay đổi rõ rệt trong môi trường thương mại toàn cầu trong giai đoạn rà soát, đặc biệt là các biện pháp thuế quan mới ảnh hưởng đến một lượng lớn thương mại”

+ Giá trị thương mại hàng hóa toàn cầu chịu tác động của các biện pháp thuế quan mới và các biện pháp tương tự khác được áp dụng trong giai đoạn rà soát bảy tháng ước tính đạt 2.732,7 tỷ đô la Mỹ (gấp hơn ba lần so với 887,6 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 12 tháng được đề cập trong báo cáo trước đó, được công bố vào cuối năm 2024). Con số này thể hiện mức độ bao phủ thương mại cao nhất của các biện pháp mới như vậy được ghi nhận trong một kỳ báo cáo kể từ khi Ban Thư ký WTO bắt đầu theo dõi diễn biến chính sách thương mại vào năm 2009.

+ Kể từ khi việc giám sát của WTO bắt đầu vào năm 2009, nhiều biện pháp như vậy đã được đưa ra và chưa bị bãi bỏ. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng theo thời gian tổng số biện pháp tích lũy vẫn đang còn hiệu lực, trong những năm gần đây, đã ảnh hưởng đến từ 10%-12,5% lượng hàng hóa nhập khẩu trên thế giới (tùy theo từng năm). Ban Thư ký WTO ước tính rằng tính đến giữa tháng 5/2025, con số này đã tăng hẳn lên 19,4%, cao hơn so với mặt bằng chung các năm trước.

2. Cảnh báo và khuyến nghị

Các nhà xuất khẩu, đặc biệt là từ các nước có thặng dư thương mại lớn với Hoa Kỳ như Việt Nam, phải đối mặt với rủi ro gia tăng do các cuộc điều tra gia tăng, liên quan đến chống lẩn tránh biện pháp PVTM. Các cuộc điều tra này tập trung vào việc xác định và ngăn chặn các hoạt động gian lận nhằm lách các rào cản thương mại, bao gồm chuyển tải và phân loại sai hàng hóa. Chính phủ Hoa Kỳ cũng đang tăng cường các nỗ lực thực thi thông qua các cơ quan như Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP), Cục Công nghiệp và An ninh (BIS) và Bộ Tư pháp (DOJ).

Do thời gian gấp rút hơn và số vụ điều tra gia tăng, nhất là khi các mức thuế quan mới được công bố, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) có thể yêu cầu đặt cọc theo đơn vị thay vì đặt cọc theo giá trị hàng hóa (phần trăm giá trị) đối với hàng nhập khẩu chịu biện pháp khắc phục thương mại, đặc biệt là khi không có đủ thông tin để tính toán theo giá trị hàng hóa.

Hoa Kỳ cũng rút ngắn thời hạn nộp đơn xin áp dụng mức thuế riêng. Trước đây, các công ty có 30 ngày sau khi khởi xướng điều tra để nộp đơn xin áp dụng mức thuế riêng; quy định mới rút ngắn thời hạn này xuống còn 21 ngày để DOC nhanh chóng xác định các công ty cần điều tra chính thức.

 Việc ứng phó với các cuộc điều tra về biện pháp khắc phục thương mại có thể tốn kém, gây gánh nặng cho cả những nhà xuất khẩu lâu năm.

Các nhà xuất khẩu Việt Nam phải chủ động chuẩn bị cho các cuộc điều tra có thể gia tăng trong tương lai, hiểu rõ các quy định thương mại của Hoa Kỳ và tìm kiếm tư vấn pháp lý để giải quyết những thách thức này.

+ Thường xuyên theo dõi các quy định và cập nhật về thương mại của Hoa Kỳ, đặc biệt là những quy định liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại và chiến thuật chống lẩn tránh. Ví dụ:

Hoa Kỳ đã áp đặt thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp chính thức đối với pin quang điện silicon tinh thể nhập khẩu từ Campuchia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Mức thuế này kết quả củacác cuộc điều tra bắt đầu vào tháng 5 năm 2024 và lên tới 3.404%.

Hoa Kỳ cũng áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời đối với hàng rào thép nhập khẩu từ Trung Quốc.

Liên quan đến các cuộc điều tra mới, Cục Quản lý Thương mại Quốc tế (ITC) của Hoa Kỳ đã công bố thông báo khởi xướng các cuộc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp song song đối với gỗ cứng và gỗ dán trang trí nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng đã khởi xướng các cuộc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với L-lysine nhập khẩu từ Trung Quốc.

Hoa Kỳ đã khởi xướng các cuộc điều tra phòng vệ thương mại mới, bao gồm các cuộc điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp song song đối với tấm cửa sợi thủy tinh từ Trung Quốc, và một cuộc điều tra chống bán phá giá tương tự đối với hộp carton polypropylene từ Việt Nam và Trung Quốc. Những cuộc điều tra mới này cũng đồng nghĩa với việc nếu các biện pháp thương mại được áp dụng, Hoa Kỳ sẽ theo dõi để phát hiện các hành vi lẩn tránh về sau.

+ Tham khảo ý kiến ​​luật sư và chuyên gia thương mại để hiểu rõ tác động của chính sách thương mại Hoa Kỳ và xây dựng các chiến lược phù hợp.

+ Đảm bảo tuân thủ mọi quy định và thủ tục thương mại hiện hành của Hoa Kỳ để tránh các vấn đề tiềm ẩn.

+ Chuẩn bị các chiến lược sản xuất và tìm nguồn cung ứng thay thế để giảm thiểu tác động của các rào cản thương mại tiềm ẩn.

+ Hợp tác chặt chẽ với các cơ quan điều tra của Hoa Kỳ trong các vụ việc hoặc quá trình thực hiện các yêu cầu về khắc phục thương mại.

+ Ngoài ra, do theo quy định mới, DOC đưa ra quy tắc hệ thống hóa phương pháp lựa chọn số lượng hợp lý các bị đơn bắt buộc trong các cuộc điều tra và rà soát thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp. Các nhà xuất khẩu có khối lượng lớn nhất sẽ được coi là đại diện cho các nhà xuất khẩu khác không được lựa chọn, và mức thuế được tính cho các bị đơn bắt buộc sẽ làm cơ sở để xác định mức thuế cho các nhà xuất khẩu khác. Do đó, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu có giá trị lớn càng cần nỗ lực chứng minh để được áp dụng mức thuế thấp hơn, qua đó giảm thiểu thiệt hại diện rộng cho toàn ngành. Ngoài ra, DOC thiết lập các quy tắc cho việc lựa chọn bị đơn tự nguyện trong các cuộc điều tra và đánh giá, nên nếu các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam tự tin có đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh thì có thể tự nguyện tham gia cuộc điều tra và đánh giá, qua đó được hưởng mức thuế thấp hơn.

 

[1] https://www.wto.org/english/news_e/news25_e/trdev_03jul25_e.htm

Tin tức khác