Các phương pháp tính toán biên độ thiệt hại của ngành sản xuất trong nước trong điều tra chống bán phá giá

Theo quy định của Hiệp định Chống bán phá giá WTO (ADA), trong một vụ điều tra chống bán phá giá có 2 vấn đề chính cần xem xét là hành vi phá giá của hàng nhập khẩu và thiệt hại hàng nhập khẩu gây ra đối với ngành sản xuất trong nước của nước nhập khẩu. Điều 9.1 ADA quy định kể cả có kết luận về phá giá và thiệt hại, việc áp biện pháp chống bán phá giá là không bắt buộc. Ngoài ra, Điều 9.1 quy định nên (desirable) ưu tiên áp dụng biện pháp ở mức thấp hơn biên độ phá giá nếu áp dụng nguyên tắc “áp thuế thấp hơn” (Lesser duty rule) là đủ để loại bỏ thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước bởi hành vi phá giá. Một số nước đã quy định nguyên tắc lesser duty rule trong nội luật. Để xác định áp mức thuế như thế nào là đủ để loại bỏ thiệt hại thì các nước này sẽ phải tính biên độ phá giá. Mặc dù các nước sẽ có cách thức tính toán khác nhau nhưng nhìn chung có 2 phương pháp: phương pháp price undercutting (so sánh giá) và price underselling (giá mục tiêu).

Trong điều tra chống bán phá giá, việc xác định biên độ thiệt hại của ngành sản xuất trong nước là một nội dung cốt lõi, đóng vai trò quyết định trong việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Không chỉ dừng lại ở việc chứng minh hành vi bán phá giá, cơ quan điều tra còn phải làm rõ mức độ thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bị cáo buộc và tình trạng suy giảm của ngành sản xuất trong nước. Do đó, các phương pháp tính toán biên độ thiệt hại cần được xây dựng một cách khoa học, toàn diện và phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là các quy định của WTO.

Trước hết, cần hiểu rằng “biên độ thiệt hại” không phải là một khái niệm duy nhất, mà thường được thể hiện thông qua nhiều chỉ tiêu định lượng khác nhau phản ánh tình trạng của ngành sản xuất trong nước. Các phương pháp tính toán biên độ thiệt hại thường tập trung vào việc đánh giá mức độ suy giảm của các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, năng suất, mức sử dụng công suất, tồn kho, dòng tiền và khả năng huy động vốn. Một trong những phương pháp phổ biến nhất là so sánh xu hướng theo thời gian, trong đó cơ quan điều tra phân tích sự thay đổi của các chỉ tiêu này trong một giai đoạn nhất định (thường từ 3–5 năm). Nếu các chỉ tiêu cho thấy xu hướng suy giảm đáng kể trùng với sự gia tăng của hàng nhập khẩu bị bán phá giá, đây có thể được xem là dấu hiệu ban đầu của thiệt hại.

Bên cạnh đó, phương pháp so sánh trước – sau (before-and-after analysis) cũng được sử dụng rộng rãi. Phương pháp này so sánh tình hình hoạt động của ngành sản xuất trong nước trước khi hàng nhập khẩu gia tăng với thời kỳ sau đó. Ví dụ, nếu trước khi có sự gia tăng nhập khẩu, ngành trong nước có lợi nhuận ổn định, nhưng sau đó bị giảm mạnh hoặc chuyển sang thua lỗ, thì mức chênh lệch này có thể được xem là một phần của biên độ thiệt hại. Tuy nhiên, phương pháp này cần được sử dụng thận trọng, vì sự thay đổi có thể đến từ nhiều yếu tố khác ngoài hàng nhập khẩu, như biến động chi phí đầu vào, thay đổi nhu cầu thị trường hoặc chính sách vĩ mô.

Một phương pháp quan trọng khác là phân tích tác động giá (price effects analysis), bao gồm ba yếu tố chính: (i) hiện tượng ép giá (price depression), (ii) kìm giá (price suppression) và (iii) bán phá giá dưới giá (undercutting). Cơ quan điều tra sẽ so sánh giá bán của hàng nhập khẩu với giá của sản phẩm tương tự trong nước để xác định mức độ cạnh tranh về giá. Ví dụ, nếu hàng nhập khẩu liên tục được bán với giá thấp hơn đáng kể so với sản phẩm nội địa, buộc doanh nghiệp trong nước phải giảm giá theo hoặc không thể tăng giá để bù đắp chi phí, thì mức chênh lệch này có thể được lượng hóa như một dạng biên độ thiệt hại về giá. Đây là một trong những phương pháp trực tiếp và có tính thuyết phục cao trong điều tra chống bán phá giá.

Ngoài ra, phương pháp tính toán tổn thất lợi nhuận (lost profit analysis) cũng thường được áp dụng. Theo đó, cơ quan điều tra ước tính mức lợi nhuận mà ngành sản xuất trong nước đáng lẽ có thể đạt được trong điều kiện cạnh tranh bình thường (không có bán phá giá), sau đó so sánh với lợi nhuận thực tế đạt được. Phần chênh lệch giữa hai mức này chính là thiệt hại về lợi nhuận. Việc xác định “lợi nhuận hợp lý” có thể dựa trên dữ liệu lịch sử của doanh nghiệp, mức lợi nhuận trung bình của ngành, hoặc lợi nhuận của các doanh nghiệp tương tự ở các thị trường khác. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi nhiều giả định và dễ bị tranh cãi nếu không có cơ sở dữ liệu vững chắc.

Một cách tiếp cận khác là phân tích thị phần và mức độ chiếm lĩnh thị trường. Nếu thị phần của ngành sản xuất trong nước giảm đáng kể trong khi thị phần của hàng nhập khẩu tăng lên tương ứng, điều này cho thấy sự dịch chuyển nhu cầu từ sản phẩm nội địa sang hàng nhập khẩu. Mức suy giảm thị phần có thể được coi là một chỉ báo định lượng của thiệt hại. Trong một số trường hợp, cơ quan điều tra còn kết hợp phương pháp này với mô hình kinh tế lượng để ước lượng mức độ tác động của hàng nhập khẩu đến sản lượng hoặc doanh thu của ngành trong nước.

Đáng chú ý, trong thực tiễn điều tra, các cơ quan có thẩm quyền thường không sử dụng một phương pháp duy nhất mà áp dụng cách tiếp cận tổng hợp (holistic approach). Điều này có nghĩa là biên độ thiệt hại được xác định dựa trên sự kết hợp của nhiều chỉ tiêu và phương pháp khác nhau, nhằm đảm bảo đánh giá toàn diện và khách quan. Đồng thời, cơ quan điều tra cũng phải thực hiện phân tích loại trừ (non-attribution analysis) để tách biệt tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá khỏi các yếu tố khác gây thiệt hại, như suy giảm nhu cầu, thay đổi công nghệ, cạnh tranh nội bộ hoặc chính sách của Chính phủ.

Cuối cùng, trong một số hệ thống pháp luật, đặc biệt là ở Liên minh châu Âu, còn tồn tại khái niệm mức thuế thấp hơn (lesser duty rule), theo đó mức thuế chống bán phá giá được áp dụng không vượt quá mức cần thiết để loại bỏ thiệt hại. Điều này đòi hỏi phải tính toán chính xác biên độ thiệt hại để làm cơ sở xác định mức thuế phù hợp, thay vì chỉ dựa trên biên độ phá giá.

Các phương pháp tính toán biên độ thiệt hại trong điều tra chống bán phá giá là một hệ thống phức tạp, kết hợp giữa phân tích định lượng và định tính, giữa dữ liệu thực tế và các giả định kinh tế. Việc lựa chọn và áp dụng phương pháp phù hợp không chỉ ảnh hưởng đến kết quả điều tra mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của doanh nghiệp và môi trường cạnh tranh trên thị trường. Do đó, các cơ quan điều tra cần đảm bảo tính minh bạch, khách quan và phù hợp với thông lệ quốc tế trong quá trình xác định biên độ thiệt hại, đồng thời doanh nghiệp cũng cần chủ động chuẩn bị dữ liệu và năng lực phân tích để bảo vệ quyền lợi của mình trong các vụ việc phòng vệ thương mại.

1. Phương pháp price undercutting: so sánh giá

Cơ quan điều tra (CQĐT) so sánh giá bán lại bình quân gia quyền được điều chỉnh (adjusted weighted average resale price) [1] của nhà sản xuất nước ngoài với giá của sản phẩm tương tự của nhà sản xuất trong nước. Khoản chênh lệch này là mức thiệt hại. Biên độ thiệt hại được tính bằng công thức lấy mức thiệt hại (khoản chênh lệch)/giá xuất khẩu (giá CIF). Phương pháp này được hiểu là, nếu nhà sản xuất nước ngoài bán giá cao hơn giá của sản phẩm tương tự của nhà sản xuất trong nước thì không gây thiệt hại. Việc tính theo phương pháp này bao gồm các bước:

(1) Chọn nước bị điều tra

(2) Chọn các mẫu hàng (models) mang tính đại diện được sản xuất và bán bởi nhà sản xuất trong nước (thông thường chiếm hơn 50% lượng bán của nhà sản xuất trong nước tại thị trường được chọn)

(3) Chọn các mẫu hàng (model) tương ứng có thể so sánh được do nhà sản xuất nước ngoài bán.[2]

(4) Điều chỉnh sự khác biệt về đặc điểm vật lý giữa các mẫu được chọn

(5) Điều chỉnh sự khác biệt để đưa về cùng mức độ thương mại

(6) Tính toán giá bán lại bình quân gia quyền của các mẫu hàng trong nước

(7) So sánh giá bán lại bình quân gia quyền của các mẫu hàng trong nước với giá điều chỉnh của các mẫu hàng nhập khẩu (cho ra kết quả là lượng bán dưới giá trên 1 đơn vị sản phẩm, trên một mẫu hàng)

(8) Lượng bán dưới giá (mức chênh lệch) trên một đơn vị nhân với lượng hàng nhập khẩu được bán cho ra tổng mức bán dưới giá (tổng mức chênh lệch)

(9) Giá bán lại bình quân gia quyền của mẫu hàng đại diện bán trong nước (mục 7) nhân với lượng bán của các mẫu hàng nhập khẩu so sánh được cho ra kết quả là tổng trị giá bán lại của hàng trong nước

(10) Lấy Tổng mức bán dưới giá (mục 8) chia cho trị giá bán của hàng trong nước (mục 9) rồi nhân với 100 cho ra biên độ bán dưới giá bình quân gia quyền (theo tỷ lệ phần trăm)

(11) Tính toán mức giá bình quân điều chỉnh của nhà sản xuất nước ngoài trên cơ sở biên độ bán dưới giá bình quân gia quyền so với giá bình quân của ngành sản xuất trong nước

(12) Tính giá CIF bình quân gia quyền của nhà sản xuất nước ngoài trên cơ sở giá bán thực tế (không phải giá điều chỉnh)

(13) Tính biên độ bán dưới giá bình quân gia quyền bằng % của giá bán lại bình quân gia quyền (giá CIF)

Theo bước 4, khi điều chỉnh sự khác biệt về vật lý, sẽ được tính trên cơ sở sự khác biệt trong chi phí sản xuất, bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chi phí chung (SG&A). Lợi nhuận (theo tỷ lệ %) được thực hiện khi bán sản phẩm cuối cùng sẽ được cộng vào chi phí. Ví dụ, nếu nhà sản xuất trong nước (P) bán tivi 14 inch mẫu A giá là 280$ và nhà sản xuất nước ngoài (S) bán tivi tương tự mẫu B có chức năng hẹn giờ với giá 200$, thì chi phí sản xuất, bao gồm chi phí SG&A của đồng hồ hẹn giờ là 5$ và lợi nhuận của S khi bán ti vi là 10% thì cần điều chỉnh giảm 5.5$ với giá bán của tivi nhập khẩu. Khi đó giá của tivi nhập khẩu sẽ là 194.5$.

            Theo bước 5, khi điều chỉnh về cùng mức độ thương mại, cần lưu ý rằng CQĐT thông thường sẽ so sánh giá ở mức độ bán hàng cho khách hàng không liên quan. Sau đó họ sẽ điều chỉnh đối với sự khác biệt về mức độ thương mại liên quan đến những giao dịch bán ở mức độ khác. Ví dụ, nếu một nhà xuất khẩu Hong Kong bán giá FOB Hong Kong cho một nhà nhập khẩu trong nước và một nhà sản xuất Việt Nam bán mẫu tương tự cho khác hàng Việt Nam giao tận nơi, thì rõ ràng là để so sánh, cần điều chỉnh tăng đối với giá FOB của nhà sản xuất Hong Kong để có được mức giá mà đáng lẽ nhà sản xuất đó bán cho khách hàng Việt Nam. Việc điều chỉnh này bao gồm giá vận tải biển, giá bảo hiểm (ví dụ 4%), thuế nhập khẩu (ví dụ 14%), chi phí phát sinh (chi phí mua hàng, chi phí dịch vụ, phân phối, marketing, chi phí tài chính, chi phí chung) và lợi nhuận của nhà nhập khẩu (ví dụ 20%). Trong ví dụ này, việc điều chỉnh sẽ là 194.5$ * 1.04 (4% phí vận tải biển, bảo hiểm) = 202.28$ * 1.14 (14% thuế nhập khẩu tính theo giá CIF) * 1.2 (20% lợi nhuận cho nhà nhập khẩu)=276.72$.

Ví dụ

Nhà sản xuất trong nước

Nhà sản xuất nước ngoài

Mẫu

Giá

Lượng

Mẫu

Giá

Lượng

A

280

100

B

200

150

X

260

200

Y

175

250

Z

270

100

Y

 

 

Theo các bước quy định ở trên, sẽ phải tính toán như sau:

  1. Điều chỉnh sự khác biệt về sản phẩm của mẫu B: 200-5.5=194.5
  2. Điều chỉnh sự khác biệt về mức độ thương mại:

Mẫu B: 194.5 * 1.04* 1.14*1.2= 276.72$

Mẫu Y: 175*1.04*1.14*1.2=248.97$

  1. Tính giá bán bình quân gia quyền của nhà sản xuất trong nước:

A: 280*100=28.000/100=280

X: 260*200=52.000

Z: 270*100=27.000

X và Z: 79.000/300=263.33

  1. Mức bán dưới giá (chênh lệch giá) theo đơn vị, theo mẫu:

A: 280-276.72= 3.28/sản phẩm

X và Z: 263.33-248.97=14.36/sản phẩm

  1. Tổng mức bán dưới giá: (3.28*150=) 492+ (14.36*250=)3.590= 4.082
  2. Tổng trị giá bán trong nước: (280*150)=42.000+(263.33*250)=65.833=107.833
  3.  Biên độ bán dưới giá bình quân gia quyền
    1.  
  4.  Mức giá bình quân điều chỉnh của nhà sản xuất nước ngoài:
    1.  
  5.  Giá CIF bình quân gia quyền của nhà sản xuất nước ngoài:

96.21*100/138*104%=72.51 (138: mức giá điều chỉnh =138% giá thực tế, 104: tỷ lệ giá CIF=104% giá bán)

13. Biên độ bán dưới giá bình quân gia quyền tính theo tỷ lệ % của giá CIF bình quân gia quyền: 3.79/72.51*100=5.23%

2. Phương pháp Underselling: giá mục tiêu

Trong một số trường hợp, CQĐT có thể thấy rằng họ không thể so sánh giá của nhà sản xuất trong nước với giá của nhà xuất khẩu vì giá của nhà sản xuất trong nước bị ép giá hoặc kìm giá do hàng nhập khẩu. Thường là trong trường hợp nhà sản xuất trong nước phải giảm giá do hàng nhập khẩu bán phá giá để không mất thị phần. Khi đó, CQĐT có thể không xem xét giá bán của nhà sản xuất trong nước và tính toán giá mục tiêu, bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất của nhà sản xuất trong nước, bao gồm SG&A, và một mức lợi nhuận hợp lý. Phương pháp này cho ra kết quả là nhà sản xuất nào bán trên mức giá mục tiêu thì sẽ có biên độ thiệt hại bằng 0. Các bước tính toán như sau:

  1. Chọn nước bị điều tra
  2. Chọn các mẫu hàng mang tính đại diện được sản xuất và bán bởi nhà sản xuất trong nước
  3. Chọn các mẫu tương ứng có thể so sánh được do nhà sản xuất nước ngoài bán.
  4. Điều chỉnh sự khác biệt về đặc điểm vật lý giữa các mẫu được chọn
  5. Điều chỉnh sự khác biệt về mức độ thương mại
  6. Tính toán chi phí sản xuất của các mẫu hàng trong nước mang tính đại diện
  7. Tính toán lợi nhuận hợp lý hoặc lợi nhuận mục tiêu
  8. Tính toán giá mục tiêu (trên cơ sở 2 bước trên)
  9. Tính toán giá mục tiêu bình quân gia quyền của các mẫu hàng trong nước mang tính đại diện
  10. So sánh giá mục tiêu bình quân gia quyền của các mẫu hàng trong nước mang tính đại diện với giá điều chỉnh của các mẫu hàng nhập khẩu so sánh được (cho ra mức underselling theo đơn vị, theo mẫu hàng)
  11. Lấy kết quả của bước trên *lượng của các mẫu hàng nhập khẩu so sánh (cho ra kết quả là tổng lượng underselling)
  12. Giá mục tiêu bình quân gia quyền của các mẫu bán trong nước mang tính đại diện (mục 9) * lượng bán của các mẫu hàng nhập khẩu (cho ra kết quả là tổng trị giá bán lại trong nước)
  13. Tổng lượng underselling (mục 11) /tổng trị giá bán trong nước *100 (biên độ underselling bình quân gia quyền theo tỷ lệ %)
  14. Tính toán giá bình quân điều chỉnh của nhà sản xuất nước ngoài trên cơ sở biên độ underselling bình quân gia quyền so với giá bình quân của ngành sản xuất trong nước
  15. Tính toán giá CIF bình quân gia quyền của nhà sản xuất nước ngoài trên cơ sở giá thực tế (so với giá điều chỉnh)
  16. Tính toán biên độ underselling bình quân gia quyền theo tỷ lệ % của giá CIF bình quân gia quyền.

 

Nhà sản xuất trong nước

Nhà sản xuất nước ngoài

Mẫu

Chi phí

Lợi nhuận mục tiêu

Giá mục tiêu

Lượng

Mẫu

Giá

Lượng

A

290

12%

324.8

100

B

200

150

X

260

12%

302.4

200

Y

175

250

Z

270

12%

313.6

100

Y

 

 

Theo các bước như quy định ở trên, sẽ phải điều chỉnh như sau:

  1. Điều chỉnh Sự khác biệt về sản phẩm của mẫu B: 200-5.5=194.5
  2. Điều chỉnh sự khác biệt về mức độ thương mại:

Mẫu B: 194.5* 1.04*1.14*1.2= 276.72$

Mẫu Y: 175*1.04*1.14*1.2=248.97$

6-8: Theo Bảng nêu trên

9. Giá mục tiêu bình quân gia quyền hang trong nước

A: 324.8*100/100=324.8

X: 302.4*200=60.480

Z: 313.6*100=31.360

X và Z: 91840/300=306.13

10. Mức underselling theo đơn vị, theo mẫu

A: 324.8-276.72=48.08/sản phẩm

X và Z: 306.13-248.97=57.16/sản phẩm

11. Tổng lượng underselling

(48.08*150)=7.212+(57.16*250=) 14.290=21.502

12. Tổng trị giá bán trong nước

  1.  

13. Biên độ underselling bình quân gia quyền

  1.  

14. Giá bình quân điều chỉnh của nhà sản xuất nước ngoài

100-17,17=82,83

15. Giá CIF bình quân gia quyền của nhà sản xuất nước ngoài

 

16. Biên độ underselling bình quân gia quyền tính theo tỷ lệ % của giá CIF bình quân gia quyền

17. 17/62.42*100=27.5%

Từ các ví dụ trên có thể thấy phương pháp underselling sẽ dẫn tới việc có biên độ thiệt hại cao hơn phương pháp undercutting

 


[1] Giá điều hỉnh =138% giá thực tế

 


[1] Điều chỉnh do có sự khác nhau trong mức độ thương mại (bán cho đại lý, bán cho khách hàng trực tiếp…) và khác nhau về đặc tính vật lý

[2] Việc so sánh mẫu hàng này là việc rất khó và thường gây tranh cãi. Trong khi tại bảng câu hỏi dành cho nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài CQĐT thường yêu cầu họ nêu rõ những mẫu hàng nào là có thể so sánh được với nhau, thông thường các doanh nghiệp không trả lời được vì họ không có kiến thức cần thiết. Vì vậy, CQĐT thường tự lựa chọn và cho các doanh nghiệp cơ hội bình luận

Tin tức khác