Cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế về phòng vệ thương mại

Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.

Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này.

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.

Việt Nam đã là thành viên của WTO nên có thể sử dụng cơ chế này cho các tranh chấp thương mại có thể có với các thành viên WTO khác. Cơ chế này sẽ là một cứu cánh quan trọng để bảo vệ các lợi ích thương mại của chúng ta trong quan hệ thương mại quốc tế. Hiện tại, việc xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp này cùng với hệ thống án lệ đồ sộ của nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ trong việc hiểu chính xác các qui định của HĐTM mà còn góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong quá trình thực thi HĐTM bởi HĐTM được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy tắc thương mại quốc tế đang có hiệu lực trong WTO.

  1. Một số khái niệm chung
  1. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là phương thức, quy trình của WTO mà qua đó các tranh chấp thương mại giữa các thành viên WTO được giải quyết, nhằm đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO được hình thành trên nền tảng pháp lý là Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (DSU-Dispute Settlement Understanding), một trong những kết quả quan trọng nhất tại Vòng đàm phán Uruguay. Rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế cũ của GATT 1947, một số cải tiến căn bản về thủ tục đã được đưa vào cơ chế mới, góp phần trong việc nâng cao tính chất xét xử của thủ tục này cũng như tăng cường tính ràng buộc của các quyết định giải quyết tranh chấp.[1] Khía cạnh đặc thù của cơ chế giải quyết tranh chấp WTO, không giống như những cơ chế quốc tế khác, là có một quy trình xét xử mang tính bắt buộcvà ràng buộc. Hiện nay, Cơ chế WTO được xem là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp tốt nhất, góp phần đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các Hiệp định.

b. Cơ quan giải quyết tranh chấp

Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB – Dispute Settlement Body) là cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành các thủ tục của quá trình giải quyết tranh chấp theo WTO. DSB có 2 cấp gồm Ban Hội thẩm (Panel) và Cơ quan Phúc thẩm (AB-Apellate Body).[2] DSB không trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử tranh chấp mà chỉ là cơ quan thông qua quyết định trong giải quyết tranh chấp tại WTO. Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm giữ vai trò là các thiết chế pháp lý để đánh giá các khía cạnh pháp lý của vụ tranh chấp.

DSB thực chất là Đại hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả các thành viên. DSB có quyền thành lập Ban Hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ (trả đũa).[3]  Các quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết.[4] Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua. Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu như được thông qua tự động. Nguyên tắc này khắc phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống - mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua (mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết quyết định) – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp.

Cho đến nay, đã có 607 vụ việc giải quyết tranh chấp được đưa ra tại WTO. Đối với Việt Nam, kể từ khi gia nhập WTO đến nay (2007), Việt Nam đã tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO với tư cách nguyên đơn trong 5 vụ việc (DS404, DS429 liên quan đến việc Hoa Kỳ áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam; DS496 liên quan đến việc Indonesia áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm thép cán cuộn không hợp kim; DS536 liên quan đến việc Hoa Kỳ áp dụng biện pháp chống bán phá giá với sản phẩm cá tra, basa và DS540 liên quan đến việc Hoa Kỳ áp dụng biện pháp vệ sinh dịch tễ đối với sản phẩm cá tra, basa) và với tư cách bên thứ ba trong 36 vụ việc.

2. Vai trò, chức năng của Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO và Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO

a. Vai trò, chức năng của Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đóng vai trò trung tâm trong việc làm sáng tỏ và đảm bảo thực thi các nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định khác nhau của WTO.[5] Mục tiêu của WTO trong việc thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp (dispute settlement mechanism- DSM) là “để đạt được một giải pháp tích cực cho các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên” (Điều 3.7 của DSU). Thông qua cơ chế này, các thành viên WTO có thể đảm bảo rằng các quyền của họ theo các Hiệp định WTO được thực thi. Điều này tạo điều kiện cho mỗi thành viên có thể khởi kiện chống lại bất kỳ thành viên nào khác vi phạm các chính sách thương mại nhằm bắt buộc các thành viên đó phải tuân thủ những nghĩa vụ của mình theo các cam kết trong các hiệp định WTO. Tham gia vào DSM cho phép các nước thành viên bảo vệ được các chính sách, biện pháp và lợi ích thương mại của mình, đấu tranh chống lại các vi phạm của các thành viên khác của WTO. Việc sử dụng hiệu quả DSM là biểu hiện, đồng thời là điều kiện đảm bảo sự tham gia, hội nhập đầy đủ và hiệu quả của một nước vào hệ thống thương mại đa biên của WTO.

Đã có rất nhiều việc đã và đang được làm để  bảo đảm tính đáng tin cậy của Hệ thống giải quyết tranh chấp WTO, như Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm được xây dựng/thiết lập để độc lập, không chịu tác động, áp lực từ bất kỳ thành viên nào của WTO cũng như từ Ban Thư ký.

Chính vì vậy, Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hiện nay được xem như cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất trong hệ thống luật pháp quốc tế.[6] Cơ chế này không chỉ đóng vai trò như một cơ quan tư pháp mà còn như là một cơ chế phòng ngừa tranh chấp, giúp làm cân bằng giữa các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO. Nó thực hiện ba chức năng chính: (i) đảm bảo hệ thống thương mại đa phương hoạt động một cách an toàn và dễ dự đoán bằng cách củng cố và tăng cường tính bắt buộc phải thi hành các quy định của pháp luật (rule of law)[7]; (ii) đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO[8]; và (iii) làm rõ quyền và nghĩa vụ này thông qua việc giải thích  Hiệp định WTO phù hợp với các qui tắc tập quán về giải thích công pháp quốc tế.[9] 

b. Vai trò, chức năng của Cơ quan giải quyết tranh chấp  WTO (DSB)

Một cơ chế để được thực hiện đầy đủ trên thực tế đòi hỏi phải có cơ quan thực thi hiệu quả. DSB không chỉ là nơi đưa ra các phán quyết về việc giải quyết tranh chấp, mà còn đóng vai trò trong việc duy trì sự giám sát và thực hiện các phán quyết và khuyến nghị này.

Khoản 1 Điều 2 của DSU quy định “Cơ quan giải quyết tranh chấp được thành lập để thực hiện những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này và các điều khoản về tham vấn và giải quyết tranh chấp của các hiệp định có liên quan, trừ khi trong hiệp định có liên quan quy định khác. Theo đó, DSB sẽ có thẩm quyền thành lập Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, thông qua các báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, duy trì sự giám sát và thực hiện các phán quyết và khuyến nghị, cho phép đình chỉ việc thi hành những nhượng bộ và các nghĩa vụ khác theo các hiệp định có liên quan”.

Như vậy, có thể hiểu chức năng của DSB bao gồm: (i) đưa một vụ tranh chấp ra xét xử thông qua việc thành lập Ban Hội thẩm; (ii) thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm, Cơ quan Phúc thẩm, làm cho báo cáo có giá trị pháp lý ràng buộc các bên có liên quan phải thực thi; (iii) giám sát việc thực hiện phán quyết về vụ tranh chấp; (iv) cho phép “trả đũa” khi một thành viên không tuân thủ phán quyết.

3. Trình tự, thủ tục và nguyên tắc của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (DSM)

  1. Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Là một cơ chế của WTO, DSM trước hết phải tuân theo các nguyên tắc xuyên suốt của WTO, là các nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc thương mại ngày càng phải tự do thông qua đàm phán, nguyên tắc tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và tính dễ dự đoán[10].

Ngoài các nguyên tắc chung nói trên, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn dựa trên những nguyên tắc sau:

(i) Nguyên tắc bình đẳng giữa các nước thành viên tranh chấp[11];

(ii) Nguyên tắc đồng thuận nghịch (negative consensus)[12];

(iii) Nguyên tắc đối xử ưu đãi đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển[13].

b. Trình tự, thủ tục của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thông thường bao gồm bốn giai đoạn chính: (i) thủ tục tham vấn[14]; (ii) giải quyết tranh chấp tại Ban Hội thẩm; (iii) giải quyết tranh chấp tại Cơ quan Phúc thẩm trong trường hợp có kháng cáo[15]; và (iv) giai đoạn thực thi phán quyết trong đó có khả năng áp dụng các biện pháp trả đũa trong trường hợp bên thua kiện không thực thi phán quyết[16]. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp đều trải qua cả 4 giai đoạn nêu trên, mà có thể dừng lại ở bất kỳ giai đoạn nào trên cơ sở thoả thuận của các bên.

Tất cả các tranh chấp tại WTO đều bắt đầu bằng yêu cầu tham vấn của các bên, trong giai đoạn này, nếu các bên tìm ra được một giải pháp thỏa đáng và phù hợp với các hiệp định liên quan là tốt nhất. Tuy nhiên, nếu tranh chấp không thể giải quyết bằng tham vấn, các bên có thể gửi yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm lên DSB. Cơ quan này sẽ tiến hành biểu quyết quyết định việc thành lập Ban Hội thẩm. Sau khi được thành lập, Ban Hội thẩm có trách nhiệm tiến hành các thủ tục cần thiết để xét xử vụ việc và ra Báo cáo cuối cùng về vụ việc gửi cho DSB thông qua. Các bên có thể kháng cáo các vấn đề pháp lý trong Báo cáo của Ban Hội thẩm (yêu cầu phúc thẩm) lên Cơ quan Phúc thẩm của WTO bằng văn bản. Báo cáo cuối cùng của Cơ quan Phúc thẩm có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban Hội thẩm, và sẽ được gửi tới DSB để thông qua. Trong giai đoạn thực thi, khuyến nghị và phán quyết của DSB là ràng buộc, mang tính bắt buộc thi hành. Trong tất cả các giai đoạn trên, các quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết, theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua. Cụ thể:

  1. Tham vấn (Điều 4 DSU)

Khi một thành viên WTO muốn chính thức khởi kiện một thành viên khác theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, bên khiếu nại trước hết phải thông báo tới các thành viên khác và toàn thể WTO về bản chất của khiếu nại, bao gồm các biện pháp có vấn đề và bất kỳ cáo buộc vi phạm WTO nào có thể là chủ thể của đơn kiện. Việc thông báo về đơn kiện thiết lập nên một giai đoạn bắt buộc 60 ngày tham vấn, theo đó trong suốt giai đoạn này bên nguyên đơn và bên bị đơn cần phải tìm kiếm một giải pháp tích cực cho vấn đề tranh chấp.[17]

Thủ tục tham vấn chỉ là thủ tục được tiến hành giữa các Bên với nhau. DSB được thông báo về thủ tục này và có trách nhiệm thông báo cho các thành viên về yêu cầu tham vấn nhưng cơ quan này không trực tiếp tham gia vào thủ tục tham vấn.[18] Các thành viên khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu Bên bị tham vấn thừa nhận rằng các Thành viên này có “lợi ích thương mại đáng kể” trong việc tham vấn này.[19] Do vậy, mặc dù tham vấn thường được coi là một trong những hành động song phương cuối cùng trước khi đưa ra giải quyết tranh chấp chính thức, có những lúc hành động đó ít ra cũng chịu sự giám sát đa phương ở một mức độ nào đó.

Thông thường các thành viên đều cố gắng giải quyết các bất đồng ở giai đoạn tham vấn nhằm hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên, đồng thời đảm bảo tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp.

ii. Giải quyết tranh chấp tại Ban Hội thẩm

Trường hợp các bên không tìm ra được một giải pháp chung thoả đáng trong giai đoạn tham vấn, bên nguyên đơn có thể gửi yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm và có quyền được trình bày khiếu kiện trước Ban Hội thẩm theo vụ việc gồm 03 người. Dựa trên các khiếu kiện và lập luận của nguyên đơn, trả lời và phản biện của bị đơn, Ban Hội thẩm sẽ đưa ra các kết luận về mặt thực tế và về mặt pháp luật để hỗ trợ các bên trong việc giải quyết tranh chấp. Nếu Ban Hội thẩm kết luận rằng có sự vi phạm WTO, Ban Hội thẩm sẽ đưa ra các khuyến nghị đối với bị đơn để thay đổi các biện pháp đang tranh chấp cho phù hợp với WTO.

Thành lập Ban Hội thẩm

Yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm phải được lập thành văn bản và gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban Hội thẩm. Nhờ có nguyên tắc đồng thuận phủ quyết nên hầu như quyền được giải quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban Hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo.[20]

Để hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn thành viên Ban Hội thẩm, Ban Thư ký (Secretariat) sẽ duy trì một danh sách các chuyên gia (thuộc chính phủ hoặc phi chính phủ) đáp ứng được yêu cầu năng lực để tham gia Ban Hội thẩm. Các thành viên WTO có thể định kỳ giới thiệu ứng viên vào danh sách này, cùng với các thông tin liên quan về kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực thương mại quốc tế, và DSB sẽ quyết định việc có bổ sung thêm người đó vào danh sách này hay không. Bản danh sách sẽ ghi rõ lĩnh vực chuyên môn hoặc lĩnh vực mà ứng viên có kinh nghiệm.[21]

Khi tranh chấp xảy ra giữa thành viên đang phát triển và thành viên phát triển, nếu thành viên đang phát triển yêu cầu, Ban Hội thẩm phải bao gồm ít nhất một thành viên đang phát triển (Điều 8.10 DSU).

Thành viên Ban Hội thẩm, nếu không được các bên thống nhất chỉ định trong vòng 20 ngày kể từ khi có quyết định thành lập sẽ do Tổng Giám đốc WTO chỉ định trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực luật, chính sách thương mại quốc tế.[22] Khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận của các bên về thành phần Ban Hội thẩm một phần là do Điều 8.3 DSU quy định công dân các bên tham gia tranh chấp và Bên thứ ba không được tham gia vào Ban Hội thẩm của vụ việc với tư cách là thành viên Ban Hội thẩm trong vụ việc đó, trừ trường hợp các bên trong tranh chấp đồng ý[23], trong khi trên thực tế những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm nhất trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp lại thường là công dân của các quốc gia thường tham gia vào các vụ việc giải quyết tranh chấp. Do đó, nguồn lựa chọn hội thẩm viên phù hợp bị giới hạn rất nhiều, đặc biệt trong bối cảnh các vụ việc tranh chấp gia tăng, số lượng các bên thứ 3 gia tăng.

Trong trường hợp có nhiều thành viên cùng yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm để xem xét cùng một vấn đề (ví dụ: một biện pháp thương mại của một thành viên bị nhiều thành viên khác phản đối) thì DSB có thể xem xét thành lập một Ban Hội thẩm chung. Nếu vẫn phải thành lập các Ban Hội thẩm riêng rẽ trong trường hợp này thì các Ban Hội thẩm này có thể có chung các thành viên và thời gian biểu sẽ được xác định một cách hài hoà để các thành viên này hoạt động một cách hiệu quả nhất.[24]

Thủ tục tố tụng và ra phán quyết của Ban Hội thẩm

Thủ tục hoạt động của Ban Hội thẩm được qui định tại Điều 12 DSU. Ban Hội thẩm, sau khi tham khảo ý kiến của các Bên liên quan sẽ ấn định một thời gian biểu cụ thể cho phiên tranh tụng đầu tiên.[25] Trong phiên tranh tụng này, các Bên tranh chấp trình bày các văn bản giải trình tình tiết vụ việc và các lập luận liên quan, các thành viên tham gia với tư cách bên thứ 3 cũng được trình bày quan điểm của mình về vụ việc. Sau đó, tại phiên tranh tụng thứ hai, các Bên tranh chấp lần lượt trình bày ý kiến và trả lời các câu hỏi của Ban Hội thẩm (oral hearings), phiên này không có sự tham dự của các bên thứ 3. Sau phiên tranh tụng thứ hai, Ban Hội thẩm soạn thảo và chuyển đến các bên phần Tóm tắt nội dung tranh chấp của báo cáo để họ cho ý kiến trong một thời hạn nhất định. Trên cơ sở các ý kiến này, Ban Hội thẩm đưa ra Báo cáo tạm thời (mô tả vụ việc, các lập luận, kết luận của Ban Hội thẩm). Các Bên cho ý kiến về Báo cáo này. Nếu có yêu cầu, Ban Hội thẩm có thể tổ chức thêm một phiên họp bổ sung để xem xét lại tổng thể các vấn đề liên quan. Sau đó Ban Hội thẩm soạn thảo Báo cáo chính thức. Thông thường nội dung của Báo cáo chính thức không khác nhiều so với Báo cáo tạm thời. Báo cáo chính thức trước hết được gửi tới các bên tranh chấp (thường là bằng tiếng Anh), sau đó được dịch ra tiếng Pháp và Tây Ban Nha để gửi đến tất cả các thành viên WTO và chuyển cho DSB thông qua.[26]

Thông qua Báo cáo của Ban Hội thẩm

Báo cáo của Ban Hội thẩm được chuyển cho tất cả các thành viên WTO và được DSB thông qua trong thời hạn 60 ngày[27] kể từ ngày Báo cáo được chuyển cho các thành viên trừ khi một Bên tranh chấp quyết định kháng cáo hoặc DSB đồng thuận phủ quyết Báo cáo (các Bên tranh chấp và các thành viên WTO khác có quyền đưa ra ý kiến phản đối có kèm theo lý do bằng văn bản đối với Báo cáo của Ban Hội thẩm chậm nhất là 10 ngày trước khi DSB họp để thông qua Báo cáo).[28]

Báo cáo của Ban Hội thẩm được lập thành văn bản trong đó phải có các nội dung sau: trình bày các tình tiết thực tế của vụ việc, tường trình về việc áp dụng các qui định của WTO trong các vấn đề liên quan, kết luận và các khuyến nghị cùng với các căn cứ dẫn tới kết luận, khuyến nghị đó.[29]

Thời hạn của giai đoạn Ban Hội thẩm kể từ khi thành lập đến khi DSB xem xét ban hành Báo cáo không được quá 9 tháng. Trong trường hợp Ban Hội thẩm được gia hạn thời hạn hoàn thành Báo cáo cuối cùng, thời gian gia hạn (không quá 3 tháng) được cộng vào thời hạn nói trên.[30]

iii. Trình tự phúc thẩm

Khi Ban Hội thẩm đã ban hành Báo cáo của mình, nguyên đơn và bị đơn của vụ việc có thể kháng cáo một phần hoặc toàn bộ Báo cáo của Ban Hội thẩm tới Cơ quan Phúc thẩm (có khoảng 2/3 số vụ việc giải quyết tranh chấp tại WTO đi tới bước này).[31] Do đối tượng bị kháng cáo trong thủ tục phúc thẩm này là Báo cáo của Ban Hội thẩm, nên một bên tranh chấp có thể vừa là nguyên đơn, vừa là bị đơn trong giai đoạn này. Ví dụ, tại Báo cáo của Ban Hội thẩm đưa ra 10 vấn đề pháp lý, bên tranh chấp A có thể kháng cáo vấn đề 1, 2, 3 và trở thành nguyên đơn trong việc kháng cáo 3 vấn đề này, khi đó bên tranh chấp B trở thành bị đơn trong việc kháng cáo 3 vấn đề đó. Tuy nhiên đồng thời bên tranh chấp B cũng có thể kháng cáo các vấn đề 4, 5, 6 trong Báo cáo của Ban Hội thẩm, khi đó bên B lại là nguyên đơn và bên A lại là bị đơn trong việc kháng cáo các vấn đề 4, 5, 6. Như vậy, tại trình tự phúc thẩm, bên A và bên B đều vừa là nguyên đơn, lại vừa là bị đơn.

Khác với các bên tranh chấp, thành viên tham gia với tư cách bên thứ ba trong vụ việc không có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc của Cơ quan Phúc thẩm, các Bên thứ ba cũng có quyền đệ trình ý kiến bằng văn bản hoặc trình bày miệng tại phiên họp của cơ quan này như các bên tranh chấp.[32]

Cơ quan Phúc thẩm chỉ xem xét các vấn đề pháp lý đặt ra trong Báo cáo của Ban hội thẩm và các giải thích pháp luật được xây dựng bởi Ban Hội thẩm. Cơ quan Phúc thẩm bao gồm 7 Thành viên. Theo quy định của Điều 17.2 DSU, mỗi vụ việc sẽ do 3 trong số 7 Thành viên xem xét vụ việc. Thành viên của Cơ quan Phúc thẩm do DSB bầu ra trên nguyên tắc đồng thuận. Cơ quan Phúc thẩm hoạt động trên nguyên tắc “tập thể”, thể hiện ở việc đơn kháng cáo của mỗi vụ việc sẽ được trao đổi bởi tất cả các thành viên Cơ quan Phúc thẩm trước khi thành lập Hội đồng xét xử vụ việc (3 Thành viên) và Hội đồng xét xử sẽ tham vấn ý kiến của tất cả các Thành viên Cơ quan Phúc thẩm trước khi tiến hành thực hiện báo cáo. Cơ quan Phúc thẩm ra Báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo (trường hợp có yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải thông báo lý do cho DSB biết).[33] Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban Hội thẩm, ngoài ra không được làm gì khác.[34] Các Bên không có quyền phản đối Báo cáo này. Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được gửi lên DSB dưới hình thức báo cáo chung, các ý kiến cá nhân độc lập của Thành viên xét xử vụ việc (nếu có) có thể được ghi trong báo cáo nhưng thông thường rất ít khi các thành viên của Cơ quan Phúc thẩm có ý kiến khác. DSB thông qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ quyết. [35] Hiện nay, Cơ quan Phúc thẩm của WTO đang bị “đóng băng” hoạt động do các Thành viên đã hết nhiệm kỳ và Hoa Kỳ ngăn chặn việc bổ nhiệm các Thành viên của Cơ quan Phúc thẩm do cho rằng cần cải tổ một số vấn đề liên quan.

iv. Thực thi phán quyết

Khi Báo cáo của Ban Hội thẩm hoặc trong trường hợp có kháng cáo là Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được DSB thông qua, vụ việc tranh chấp tiến tới giai đoạn thực thi của các bên dưới sự giám sát của DSB. Thông thường, thành viên WTO có biện pháp bị coi là không phù hợp với WTO sẽ có được một “khoảng thời gian hợp lý” để thực thi các khuyến nghị và kết luận của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm [36].

Trường hợp bên bị đơn thực hiện phán quyết và việc thực hiện này bị khiếu kiện bởi nguyên đơn, một Ban Hội thẩm thực thi bao gồm các thành viên của Ban Hội thẩm ban đầu sẽ được thành lập để xác định xem liệu việc thực thi đó có phù hợp với WTO hay không. Nếu bên bị đơn không thực thi phù hợp, bên nguyên đơn có quyền áp dụng các biện pháp bồi thường, trả đũa. Tuy nhiên, các biện pháp này không làm chấm dứt nghĩa vụ thực hiện khuyến nghị của Bên vi phạm.[37]

Nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về mức độ phù hợp của các biện pháp bồi thường, trả đũa, thì mức độ này sẽ do các thành viên Ban Hội thẩm ban đầu làm trọng tài quyết định.

 


[1] Giới thiệu về Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO – Website Trung tâm WTO, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI

[2] Điều 2 DSU quy định DSB có thẩm quyền thành lập Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm.

[3] Điều 2.1 DSU.

[4] Điều 6.1, 16.4, 17.14 và 22.6 DSU.

[5] Rufus Yerxa and Bruce Wilson (2009), “Key issue in WTO Dispute Settlement The first ten years”, Cambridge University Press, trang 15

[6] David Palmeter (2000), “The WTO as a Legal System” Fordham Internal Law Journal, Vol. 24 (1&2), trang 10.

[7] Legal Affairs Division and the Appellate Body (2004), A Handbook on the WTO Dispute Settement System: A WTO Secretariat Publication, Cambridge University Press, trang 2

[8] Điều 3.2 DSU

[9] Điều 3.2 DSU

[10] Lê Thị Hồng Hải (2009), Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO –– Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Quốc tế - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

[11] Bình đẳng trong việc tiến hành tham vấn, hoà giải, bình đẳng trong quá trình đưa ra Ban Hội thẩm cũng như quá trình Phúc thẩm và thực thi phán quyết.

[12] Điều 6.1, 16.4, 17.14 và 22.6 DSU.

[13] Điều 3.12, Điều 4.10, Điều 8.10, Điều 12.10, 12.11, Điều 21.2, 21.7, 21.8, Điều 24, Điều 27.2 DSU

[14] Điều 4, 5 DSU

[15] Điều 6 đến Điều 20 DSU

[16] Điều 21, 22 DSU

[17]Rufus Yerxa and Bruce Wilson (2009), “Key issue in WTO Dispute Settlement The first ten years”, Cambridge University Press,  trang 17

[18] Điều 2.1, 2.2, 4.4 DSU

[19] Điều 4.11 DSU

[20] Điều 6.1 DSU

[21] Điều 8.4 DSU

[22] Điều 8.7 DSU

[23] “Citizens of Members whose governments are parties to the dispute or third parties as defined in paragraph 2 of Article 10 shall not serve on a panel concerned with that dispute, unless the parties to the dispute agree otherwise”- Trích Điều 8.3 DSU.

[24] Điều 9 DSU

[25] Điều 12.3 DSU

[26] Điều 16 DSU

[27] Nhằm để các thành viên có đủ thời gian xem xét Báo cáo của Ban Hội thẩm, Báo cáo sẽ không được xem xét để thông qua trong vòng 20 ngày kể từ ngày được gửi tới các thành viên – Điều 16.1 DSU.

[28] Điều 16 DSU

[29] Điều 11, 12.7 DSU

[30] Điều 20 DSU

[31] Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi ngày 06/6/2014, Tình hình thực thi cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO  năm 2013,  website Cục Quản lý cạnh tranh

[32] Điều 17.4 DSU

[33] Điều 17. 5 DSU

[34] Điều 17.13 DSU

[35] Điều 17.14 DSU

[36] Theo quy định tại Điều 21.3 DSU, khoảng thời gian hợp lý là: (i) khoảng thời gian đề xuất của Bên liên quan nếu được DSB chấp thuận; (ii) nếu không được chấp thuận, thì là khoảng thời gian do các bên tranh chấp thoả thuận trong vòng 45 ngày kể từ ngày thông qua các khuyến nghị; (iii) nếu không thoả thuận được, thì là khoảng thời gian xác định bởi trọng tài bắt buộc trong vòng 90 ngày kể từ ngày thông qua các khuyến nghị

[37] Điều 22.1 DSU

Tin tức khác